Chào mừng bạn đến với mục hổ trợ kỹ thuật của Công ty Nhân Hòa
Nếu
bạn là người quản lý của một Công ty, thì chắc hẳn sẽ có lần bạn không hài
lòng khi nhìn thấy nhân viên của mình đang mải mê chơi trong giờ làm việc.
Hoặc thỉnh thoảng bạn phát hiện ra rằng một vài người nào đó lưu trong ổ
cứng rất nhiều bộ phim hoặc tranh ảnh không lành mạnh được tải về từ
Internet.
Và hãy thử
tưởng tượng nếu bạn có khoảng 1000 nhân viên ở nhiều bộ phận khác nhau, thì rõ
ràng là bạn khó có thể kiểm soát được việc sử dụng Internet của họ như thế nào
cho đúng mục đích.
Bài viết
này đề cập đến chương trình SurfControl Web Filter 5.0 của hãng SurfControl
(website:
www.surfcontrol.com).
Đây là một trong những chương trình mạnh nhất trên thế giới cho phép
người quản lý có thể theo dõi người dùng Internet theo thời gian thực, áp dụng
các quyền truy cập Internet linh hoạt theo yêu cầu, cũng như cho phép kết xuất
báo cáo về hoạt động của người dùng trong mạng bất kỳ lúc nào.
Bạn
cần phải quản lý cái gì?
Việc quản
lý người dùng Internet nhằm tới một mục đích là làm cho việc sử dụng Intemet
hiệu quả hơn và trong sáng hơn. Rõ ràng là như vậy khí bạn không hề muốn nhân
viên của bạn suốt ngày chỉ dán mắt những trang Web khiêu đâm, hoặc tải những bộ
phim có nội đung không lành mạnh từ Internet. Cũng tương tự như vậy, có thể
trong giờ làm việc mà nhân viên bạn chỉ chăm chú chat và webcam với người khác.
Hoặc việc truy cập thường xuyên vào các trang tin tức cũng ngốn khá nhiều thời
gian của người dùng.
Công ty
bạn có rất nhiều phòng ban khác nhau. Tùy theo chức năng của các phòng ban này
mà bạn muốn họ chỉ sử dụng Internet để giao dịch thư từ với đối tác mà thôi. còn
với phòng ban khác thì bạn muốn cho họ truy cập được các các Website nước ngoài
để tìm kiếm thêm thông tín. Còn với một số nhóm người đặc biệt trong Công ty của
bạn (ví dụ như Ban giám dốc, Chủ tịch Hội Đồng quản trị...) bạn muốn họ có thể
giao địch với đối tác của Công ty bạn với mức độ ưu tiên cao nhất, ngay cả khi
đường truyền Internet bị tắc nghẽn do quá nhiều người dùng.
Tuy nhiên,
việc quản lý này cũng cần phải linh hoạt. Bạn cũng không nên để nhân viên nghĩ
rằng là bạn quá khắt khe trong việc quản lý việc sử dụng Internet như vậy. Trước
khi vào giờ làm việc, hoặc giờ nghỉ trưa, tôi muốn được nghe nhạc trực tuyến,
xem tình hình thời sự, chat với bạn bè, gọi điện thoại qua mạng Internet cho
người thân ở nước ngoài, chơi game trực tuyến... Điều này hoàn toàn hợp lý đấy
chứ. Nhưng chỉ là ngoài giờ làm việc thôi nhé, rõ ràng bạn sẽ không thể từ chối
được.
Bạn thấy
đấy, với một Công ty có càng nhiều người dùng Internet thì nhu cầu sử dụng của
họ cũng càng đa dạng. Điều này dẫn đến việc phải có một chương trình tự động để
theo dõi và quản lý một cách linh hoạt các yêu cầu của người sử dụng.
Surfcontrol làm được hơn cả mong đợi
Thực ra
nhu cầu của người sử dụng khó có thể vượt qua được việc dự đoán của những người
lập trình. Bằng việc thống kê nhu cầu sử dụng của người dùng của hàng trăm Công
ty khác nhau trên thế giới, những người lập trình ra sản phẩm Surfcontrol Web
Filter (SWF) đã đưa toàn bộ các tiêu chí quản lý này vào hệ thống. Đến phiên bản
mới nhất là SWF 5.0, người quản lý đã thấy được sự thỏa mãn hơn cả mong đợi khi
sử dụng chương trình này.
Việc quản
lý truy cập Intemet tự động dựa vào hàng loạt các thông số khác nhau như tên
truy nhập của người sử dụng, thời gian truy nhập, nội dung trang Web truy nhập,
mức độ ưu tiên khác nhau... Mỗi người sử đụng được cấp một tên truy cập khác
nhau khi vào máy tính, và chương trình SWF sẽ dựa vào việc phân quyền của các
tên truy cập này mà áp dụng các quy tắc truy nhập cụ thể cho người sử dụng hoặc
các phòng ban liên quan.
Khả năng
lọc nội dung trang Web cực mạnh của SWF giúp cho bạn có thể quản lý sâu hơn các
đối tượng trong trang Web. Nó có thể phân chia các tên file cho phép hay cấm
download, kiểu file âm thanh và hình ảnh, các kiểu file nén... cũng đặt được mức
độ ưu tiên download các file này. SWF cũng đặt các độ ưu tiên khác nhau cho
người sử dụng, dựa vào mức độ ưu tiên của từng tên truy nhập mà nhóm người đùng
này có thể download nhanh hơn các nhóm người dùng các trong mọi trường hợp.
Ngoài ra,
module đo dung lượng sử dụng Internet của SWF cũng cho bạn khả năng hết sức linh
hoạt để ngăn không cho người sử dụng download quá nhiều các file dung lượng lớn,
tránh ùn tắc đường truyền phục vụ cho những người dùng khác. Nếu bạn đặt tổng
dung lượng sử dụng Internet trong ngày của một người dùng cụ thể là 20Mb, điều
đó có nghĩa là lượng thông tin người dùng đó tải về từ Internet trong ngày hôm
đó chỉ được phép là 20Mb, nếu SWF thấy quá đung lượng này sẽ gửi thông báo cho
người sử dụng và ngăn không cho phép truy cập Internet nữa. Chức năng này hết
sức hiệu quả trong trường hợp những người sử dụng cố tình download những file
hoặc những bộ phim cực lớn trên Internet trong giờ làm việc và gây tắc nghẽn
đường truyền chung.
Chương
trình này có một cơ sở dữ liệu khổng lồ về thông tin các Website trên Internet
và phân chia các trang Web này thành các nhóm khác nhau để tiện cho người sử
dụng nhằm: Tin tức, thể thao, tài chính, đầu tư công nghệ thông tin, giải trí,
quảng cáo, nhóm trang web nội dung xấu... Việc phân chia này giúp cho người quản
lý cho phép người sử dụng có quyền truy nhập vào các nhóm Website khác nhau theo
yêu cầu. Ngoài ra, chương trình này có một module rất thông minh, cho phép tự
động tìm kiếm trên các Website người dùng truy cập để sắp xếp các trang Web mới
vào các nhóm tương ứng dựa vào các từ khóa và nội dung trên Website này.
Cách kết
xuất báo cáo của chương trình này cho bạn các số liệu cực kỳ đầy đủ về thông tin
của người sử dụng cũng như nội dung trên Internet được sử dụng bằng 55 kiểu báo
cáo chi tiết khác nhau được dạng file HTML. Nó cho phép sắp xếp 10 người sử dụng
nhiều nhất trong bất kỳ khoảng thời gian nào, hoặc 10 website hoặc nhóm nội dung
mà tất cả người dùng truy cập thường xuyên nhất, cũng như là báo cáo chi tiết về
thống kê băng thông người dùng đã sử dụng .Các báo cáo này có thể được chuyển
thành các định dạng cần thiết như pdf, xls, cvs...
Kết
luận
“Hết sức
linh hoạt và tiện lợi", đó là kết luận của tất cả những người đã thử dùng chương
trình này. SWF cung cấp đầy đủ các tính năng để bạn có thể nhìn thấy chi tiết
từng Megabyte ra vào trên hệ thống mạng của bạn với báo cáo hết sức rõ ràng. Với
những người quản lý mạng chuyên nghiệp thì SWF là chương trình không thể thiếu
để kiểm soát toàn bộ việc sử dụng Internet của người dùng trong mạng
Với vai trò quản trị hệ thống mạng có hàng chục hay hàng trăm máy tính trong một công ty hay doanh nghiệp, bạn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: Trình độ thành thạo máy tính, ý thức bảo mật dữ liệu của người dùng chưa cao; sự “khó tính” của nhân viên (họ không cần biết người quản trị làm gì, miễn sao bật máy lên là vào thẳng màn hình làm việc mà không cần nhập username/password; máy tính có vấn đề gì như mất dữ liệu, chạy chậm v.v... tất cả đều “đổ lên đầu” người quản trị mạng).
Ngoài ra, nếu ban lãnh đạo công ty chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo mật thông tin thì quả là khó khăn rất lớn cho bạn. Có rất nhiều vấn đề không phải một sớm một chiều có thể giải quyết. Trong bài này tôi chỉ muốn giới thiệu kinh nghiệm và giải pháp phòng chống virus (tôi dùng từ “virus” bao gồm cả virus, trojan, worm) trong mạng công ty tôi, hy vọng được mọi người góp ý, trao đổi thêm.
THỰC TẾ CÔNG TY Trong toàn công ty tôi có khoảng 110 máy tính nối mạng và 40 máy tính không nối mạng. Trên mỗi máy sử dụng 1 trình chống virus (antivirus) khác nhau, thậm chí có máy cài 2-3 trình antivirus. Điều quan trọng là các trình antivirus này đều không được cập nhật. Việc sử dụng nhiều trình antivirus khác nhau gây khó khăn cho người quản trị trong việc theo dõi các bản cập nhật của các hãng bảo mật. Thêm nữa, nếu cập nhật và xử lý sự cố cho từng máy thì rất mất thời gian, ảnh hưởng tới công việc.
Vấn đề đặt ra là làm sao biết trong mạng công ty xuất hiện virus gì, ở phòng ban nào, máy nào? Làm sao kiểm soát virus trong toàn mạng? Làm sao để trình antivirus ở máy người dùng luôn được cập nhật? Làm sao đặt lịch “quét” virus đồng loạt toàn mạng?
GIẢI PHÁP Sau khi tìm hiểu một số trình antivirus, tôi quyết định sử dụng thử phiên bản Symantec Antivirus Corporate Edition, hiện tôi sử dụng phiên bản 8.0 (phiên bản mới nhất 9.0) có một số đặc tính sau: * Khi cập nhật virus mới trên máy Server thì toàn bộ các máy sử dụng phiên bản client (máy trạm) đều được cập nhật. * Hàng ngày có thể theo dõi sự xuất hiện và sự lây nhiễm virus gì, ở máy nào? thời điểm? ổ đĩa và thư mục bị nhiễm? Có thể xuất báo cáo về virus từng ngày v.v... * Có thể đặt lịch quét virus trên các máy trạm vào 1 thời điểm nhất định, theo dõi máy nào đã quét, máy nào chưa.
CÀI ĐẶT 1. Cài đặt phiên bản Symantec Antivirus Corporate Edition Server tại máy chủ quản lý, sau khi cài đặt sẽ có thư mục chia sẻ mặc định: Savclt-instWin32. 2. Có 2 cách cài đặt trình antivirus ở máy trạm: - Dùng client tạo ra từ thư mục nói trên để cài đặt tại các máy trạm, - Dùng chương trình Symantec Antivirus Coporation Edition Client với chọn lựa là Managed bởi máy chủ đã cài bản Antivirus Server.
CẤU HÌNH MÁY TRẠM Chúng ta cấu hình một số chọn lựa trên bản client như sau: - Vào Configure -> File System Realtime Protection, ở tab Macro Virus và Non-Macro Virus chọn Action 1 và 2 như hình 1a. - Bỏ chọn lựa Display message on infected computer (không hiển thị thông báo khi phát hiện virus trên máy người dùng). - Nhấn Advanced, Heuristics, chọn Maximum level of Protection (hình 1b) - Đặt lịch quét toàn bộ các máy tính trong mạng. Chọn New Scheduled Scan, Next, chọn thời điểm quét, Next, chọn ổ đĩa cần quét, Save (hình 1c).
LÀM VIỆC TRÊN MÁY CHỦ ANTIVIRUS a. Cập nhật thông tin virus Theo dõi sự xuất hiện của các loại virus mới và tải về bản cập nhật Update Virus trên website www.symantec.com. Có 4 cách để cập nhật thông tin virus, người quản trị có thể chọn một cách phù hợp với môi trường làm việc (bạn có thể tham khảo ở trang web http://service1.symantec.com/SUPPORT/ent-security.nsf/pfdocs/2002103012571948). - The Virus Definition Transport Method (VDTM) Là giải pháp tự động phân phối bản cập nhật virus. Với VDTM, bạn chỉ cần cập nhật 1 lần trên máy server bằng cách sử dụng LiveUpdate hoặc file .xdb, và sau đó server sẽ tự động phân phối bản cập nhật tới các máy client trong mạng. - LiveUpdate Là chương trình kết nối tới server của Symantec, lấy về bản cập nhật thông tin virus mới nhất và thực hiện cập nhật cho máy đang làm việc. Bạn chạy LiveUpdate tại máy Symantec Server, sau đó phân phối tới các máy trạm thông qua VDTM. Chú ý: chúng ta có thể đặt lịch tự động cập nhật trên máy server. - File .xdb Tải về file .xdb từ Symantec Antivirus Server, chép vào thư mục chia sẻ VPHOME, thay đổi ngày của file .xdb theo đúng ngày cập nhật. Chương trình RTVSCAN.EXE trên các máy client sẽ kiểm tra phiên bản file .xdb mới và tiến hành cập nhật cứ 10 phút 1 lần. - Intelligent Tải về file dạng yyymmdd-version-x86.exe, chạy bản cập nhật này trên máy server. Sau đó toàn bộ các máy client trong mạng sẽ cập nhật thông qua VDTM. b. Theo dõi virus trên mạng Thông qua chức năng Virus History, mỗi ngày người quản trị có thể theo dõi tình trạng virus trên toàn mạng của công ty thông qua các thông tin được gửi lên Antivirus Server từ các trình Antivirus Client. Chúng ta có thể biết được máy nào đang bị nhiễm virus gì? Phòng ban nào? Máy tính nào? Thư mục nào? Đã diệt được hay chưa? v.v... (hình 2a) c. Theo dõi lịch quét virus trên các máy client Dùng chức năng Scan History để theo dõi quá trình quét virus trên các máy tính người dùng.
XỬ LÝ SỰ CỐ a. Máy chủ Antivirus Server gặp sự cố Trường hợp máy chủ cài Antivirus Server thay đổi địa chỉ IP (hay gặp sự cố), khi đó các máy client không nhìn thấy máy chủ (tiếp tục kiểm tra địa chỉ IP cũ) và không nhận được bản cập nhật virus mới. Để giải quyết vấn đề này chúng ta làm như sau: - Khởi động lại Antivirus Server (có tác dụng trong trường hợp thay đổi IP) + Từ Start -> Run, gõ services.msc -> OK + chọn Symantec Antivirus Server + nhấn Stop sau đó nhấn Start - Cập nhật lại địa chỉ IP cuả máy chủ cho các máy client + Từ Start -> Run, gõ regedit -> OK + sau đó chọn HKEY_LOCAL_MACHINE/Software/Intel/Landesk/VirusProtect6/CurrentVersion/AddressCache/ đây là thông tin về máy chủ để client kết nối đến. + Chọn , trong từ khoá Address_0 chứa địa chỉ IP máy chủ có dạng: 00 04 20 00 0b 97 00 00 9b 40 7b fd 00 00 00 00 00 00 00 00 00, bỏ qua 9 cặp số đầu, từ cặp thứ 10 trở đi bạn hãy đổi địa chỉ IP máy chủ mới từ cơ số 10 sang cơ số 8 rồi ghi vào khoá trên. Ví dụ: 9b=155 40=64 7b=123 fd=253 cho địa chỉ máy chủ 155.64.123.253. Nếu cài mới Antivirus Server sẽ tạo ra file Grc.dat mới, dùng chương trình notepad mở file, tìm dòng Address_0 và lấy giá trị tại dòng này thay vì phải chuyển đổi cơ số như trên. + Thoát khỏi Registry Editor - Cập nhật lại tên máy (naming resolution) + Symantec Antivirus không sử dụng NetBIOS để truyền thông, client và server không sử dụng giao tiếp truyền thông APIs trên nền tảng Microsoft Network mà sử dụng Symantec Antivirus protocol. + Tên máy tính là thành phần cần thiết cho Symantec Antivirus làm việc. Symantec Antivirus theo dõi tên máy thay đổi và sẽ tự cập nhật. + Bạn có thể dùng lệnh “ping” để kiểm tra chính xác tên máy server và client. - Cập nhật lại địa chỉ IP của máy chủ trên file Grc.dat (nếu IP thay đổi) + Dùng chương trình Notepad mở file Grc.dat, tìm dòng Address_0 và cập nhật địa chỉ IP của máy chủ. b. Máy client gặp sự cố Có thể máy client gặp sự cố không cập nhật được bản virus mới, không liên kết được với máy Antivirus Server. Bạn hãy kiểm tra IP liên kết đến server có chính xác hay không như ở trên. Nhưng tốt hơn hết là bạn gỡ bỏ bản cũ, lấy bản client mới tạo ra trên server để cài đặt lại.
KẾT LUẬN Qua thực tế triển khai, tôi có nhận xét như sau: Ưu điểm: - Các chương trình Antivirus Server/Client luôn được cập nhật. - Người quản trị theo dõi được sự xuất hiện các loại virus trong mạng. - Nếu trình Antivirus Client không có tác dụng với 1 loại virus nào đó, chúng ta có thể tìm kiếm các công cụ mạnh hơn để chuyển tới máy bị nhiễm, yêu cầu người sử dụng chạy công cụ đó để diệt virus. - Do cấu hình trình Antivirus Client như trên, trong quá trình quét Realtime nếu phát hiện virus sẽ không có cảnh báo làm người dùng hoang mang. Chỉ người quản trị theo dõi và phát hiện. Khuyết điểm: - Nếu máy nào đã bị nhiễm “quá nặng” thì phải trực tiếp xử lý tại máy đó (tham khảo bài “Tiêu diệt SPYWARE” trên TGVT A tháng 4/2005, trang 111). - Khuyến cáo người dùng không nên chia sẻ thư mục tại máy. Nếu chia sẻ file nên sử dụng FTP server. - Có thể có một số virus mà mô hình triển khai Client/Server không phát huy tác dụng. Để phòng và chống virus hiệu quả, bạn phải kết hợp triển khai mạng công ty theo mô hình “domain” để thi hành các chính sách bảo mật trên các máy trạm, song song với việc khuyến cáo nhân viên chạy các bản vá lỗi hệ điều hành. Ngoài ra, vấn đề nhận thức của người dùng, chính sách bảo mật trong công ty cũng góp phần làm cho mạng của bạn an toàn hơn.